Saturday, 1 Oct 2022
Know-how thực tiễn Nghiên cứu thị trường

Báo cáo du lịch biển Việt Nam 2022 (P1) – Tiềm năng & Thách Thức

Tổng quan tiềm năng du lịch biển đảo Việt Nam 2022

Về du lịch biển, Việt Nam sở hữu tổng cộng 125 bãi biển rất đẹp, bãi cát mịn, nước trong xanh, môi trường trong lành, đặc biệt Đà Nẵng đã nghiễm nhiên lọt vào Top 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh của Forbes. Song song đó, nhờ Vịnh Hạ Long và Nha Trang, chúng ta cũng nằm trong Top 12 quốc gia có các vịnh biển đẹp nhất thế giới.

Về mặt văn hóa, 1/3 trong số các di tích văn hóa Việt Nam hiện có, đều nằm ở các vùng ven biển, các làng chài với các lễ hội biển khác nhau. Đó là điều kiện không gì thích hợp hơn để phát triển du lịch biển, đặc biệt là loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao biển, du lịch văn hóa, sinh thái…

Với những lợi thế tự nhiên quá lớn đó, nghiễm nhiên năm 2019, Việt Nam đã lập kỷ lục khi đón hơn 18 triệu lượt khách quốc tế và 85 triệu lượt khách nội địa, tổng số lượng du khách cũng tăng ba lần. Trong đó, “Du lịch biển” chiếm tỷ trọng lớn, mang lại gần 70% tổng thu nhập từ khách du lịch và đóng góp 8% GDP cả nước.

Cũng như bao quốc gia khác, ngành du lịch Việt Nam cũng chỉ đang trong bước đầu hồi phục sau đại dịch Covid 19.

6 tháng đầu năm 2022, tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt 413 nghìn lượt; khách du lịch nội địa đạt 60,8 triệu lượt (tăng 1,9 lần so với cùng kỳ năm 2021 và tăng 1,3 lần so với cùng kỳ năm 2019, thời điểm trước khi xảy ra dịch Covid-19). Chỉ tiêu về đón khách du lịch nội địa của năm 2022 đã được hoàn thành ngay trong 6 tháng đầu năm. Tổng thu từ khách du lịch đạt 265 nghìn tỷ đồng.

Mkteer.vn Hoi phuc nganh du lich 2022 trong do co du lich bien

Việt Nam sẽ không được như hiện nay nếu không có bờ biển. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng đó khi đi cùng với việc lập kế hoạch chưa toàn diện kèm tình trạng biến đổi khí hậu đang bắt đầu bộc lộ những thách thức cũng như các hạn chế hiện hữu của du lịch biển Việt Nam.

Các thách thức và hạn chế hiện hữu của du lịch biển Việt Nam 2022

Những bờ biển kiên cường của Việt Nam – thách thức du lịch biển chưa

 bao giờ cũ

Mkteer.vn Rui ro sat lo cua cac khach san ven bienHơn 3.200km đường bờ biển tuyệt đẹp hàng năm đều phải hứng chịu không dưới 10 cơn bão lũ. Chỉ tính riêng hai tháng cuối năm 2021, chín cơn bão và hai đợt áp thấp nhiệt đới đã tàn phá bờ biển miền Trung Việt Nam, làm chết gần 200 người và gây thiệt hại 1,3 tỷ USD – gấp 5 lần tổng thiệt hại của 2019.

Ngoài áp lực của tự nhiên, miền duyên hải Việt Nam còn phải gồng mình chịu thêm rủi ro phá vỡ tiềm năng phát triển bền vững do sự lệch pha giữa tốc độ phát triển nhanh chóng và những thiếu sót trong khâu dự báo và lập kế hoạch ứng phó.

Trong đó, Du lịch là ngành dễ bị tổn thương nhất xét theo giá trị sản xuất gặp rủi ro bình quân hàng năm. Tổng rủi ro đối với ngành du lịch biển do lũ lụt vùng ven biển và ven sông là khoảng 500 triệu đô la hơn gấp 3 lần vị trí thứ 2 là ngành Nuôi trồng thủy sản. Đáng chú ý là 42% khách sạn ven biển đang nằm trong khu vực bị sạt lở.

Đặc biệt là khu vực các tỉnh ven biển miền Trung của Việt Nam như Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam và Bình Thuận, mỗi tỉnh đều ghi nhận mức thiệt hại có khả năng lên tới hơn 50 triệu đô la mỗi năm.

Mkteer.vn Gia tri thiet hai nganh du lich bien theo dia phuong do thien tai

(Nguồn: Báo cáo “Những bờ biển kiên cường” – Ngân hàng thế giới, 2020)

Những bất cập cố hữu hạn chế tiềm năng du lịch biển Việt Nam

Có một thực tế phải chấp nhận là tỷ lệ du khách quay trở lại Việt Nam vốn nổi tiếng là thấp. Theo báo cáo của Hiệp hội Lữ hành Châu Á Thái Bình Dương tỉ lệ này khiêm tốn tới mức 6%, so với con số 70% của Thái Lan.

Mô hình phát triển chưa phù hợp

Ngành du lịch của Việt Nam đã phát triển nhanh chóng trong 20 năm qua thông qua một mô hình dựa chủ yếu vào đầu tư, tập trung vào các khu nghỉ dưỡng khổng lồ và các dự án phát triển liên quan. Điều này đã dẫn đến sự gia tăng số lượng khách du lịch và các tour du lịch trọn gói “không đô la”, tập trung vào các kỳ nghỉ ngắn ngày và các thị trường khách chi tiêu ít, vốn không đóng góp về mặt kinh tế cho cộng đồng địa phương nơi khách lưu trú.

Sự khập khiễng giữa quy hoạch vùng và tốc độ tăng trưởng chóng mặt

Rác thải - mối nguy đối với du lịch biểnNhững câu chuyện về các công trình dở dang và bị hư hại, việc phá hủy các tòa nhà lịch sử, chất lượng nước và không khí kém, rác thải nhựa quá nhiều và việc thương mại hóa quá mức các địa điểm du lịch là tình trạng chung và đang đe dọa trải nghiệm của du khách.

Đơn cử như Phú Quốc vốn là một hiện tượng của du lịch Việt Nam về tăng trưởng nhanh chóng. Chỉ trong 5 năm (2014-2019), từ con số chưa đến 1 triệu lượt khách, đến năm 2019, Phú Quốc đã đón hơn 5 triệu lượt khách. Ở đây cũng nhanh chóng xây dựng nhiều khách sạn, resort nghỉ dưỡng sang trọng. Dẫn đến, mỗi ngày ở Phú Quốc thải ra hàng trăm tấn rác nhưng năng lực thu gom mới chỉ đáp ứng trên 60%. Số rác thải chưa được thu gom và nước thải chưa qua xử lý trôi dạt trong tự nhiên, theo các cống, kênh rạch, sông ngòi ra biển, gây ô nhiễm môi trường.

3 giải pháp nổi bật hỗ trợ phát triển du lịch biển Việt Nam về dài hạn

Theo báo cáo “Những bờ biển kiên cường” của Ngân hàng thế giới, 3 giải pháp cấp tiến mà các địa phương cần lưu tâm thực hiện để phát triển du lịch biển Việt Nam gồm:

Thực thi triệt để công tác quy hoạch ven biển dựa trên thông tin về rủi ro

Đầu tiên cần đảm bảo quy hoạch có hệ thống để bảo vệ các khu vực tăng trưởng có nguy cơ cao. Để làm được điều đó cần chuẩn bị kỹ lưỡng công tác rà soát rủi ro thiên tai một cách có hệ thống cho các phát triển mới ỡ vùng ven biển. Từ đó, tạo tiền đề cho phát triển các khung quy hoạch không gian dựa trên phân tích rủi ro ở tất cả các cấp quản lý hành chính và thúc đẩy việc thực thi được triệt để.

Tận dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên

Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở khu vực ven biển Việt Nam đang ảnh hưởng đến hệ sinh thái vốn được xem là phong phú và đa dạng bậc nhất thế giới. Hiện tượng trên đã và đang ảnh hưởng nặng nề đến du lịch biển Việt Nam cũng như cuộc sống của người dân ven biển.

2 Giải pháp được đưa ra là:

Quản lý và bảo vệ bãi cát ven biển

Trong đó đặt trọng tâm vào việc Tăng cường quy định và khung thể chế quản lý các cồn cát ven biển, đồng thời Bảo vệ, phục hồi và quản lý cồn cát một cách hiệu quả. Điều này đòi hỏi các hành động quyết liệt đến từ các cấp chính quyền địa phương, như xây dựng vành đai bảo vệ ven biển, đặc biệt ở các khu vực kém phát triển, để đảm bảo các hoạt động phát triển mới sẽ không ảnh hưởng đến hệ sinh thái cồn cát vốn đã nhạy cảm.

Xây dựng kế hoạch khôi phục, bảo vệ rừng ngập mặn và rạn san hô

Hệ sinh thái rừng ngập mặn cũng như rạn san hô mặc dù góp phần tăng cường khả năng chống chịu cho khu vực ven biển và phát triển sinh kế nhưng vẫn còn bị đánh giá thấp. Đặc biệt là các rạn san hô không chỉ có đóng góp đáng kể cho ngành du lịch mà còn góp phần giảm thiểu tác động của nước dâng do bão.

Có vai trò quan trọng như thế nhưng cả rừng ngập mặn và rạn san hô hiện đang chưa nhận được sự quan tâm đúng mực từ địa phương dẫn đến hai hệ sinh thái này vẫn đang hàng ngày chịu sự tàn phá của các hoạt động khai thác quá mực, du lịch tự phát, nhất là ở các khu vực tập trung đông dân cư.

Những năm gần đây, tuy Việt Nam đã có những thành công bước đầu trong việc khôi phục rừng ngập mặn, vẫn cần lắm việc Áp dụng mô hình chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES) cho cả rừng ngập mặn, như cái cách ta đang làm trong bảo vệ rừng ở các tỉnh miền núi. Điều này sẽ giúp cho dân và chính phủ đồng lòng cùng chung tay bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn.

Cho rạn san hô thì điều cấp thiết bây giờ là phải xây dựng chính sách và khung pháp lý chuyên biệt về bảo tồn rạn san hô. Điều này bao gồm chỉnh sửa Luật về Bảo vệ, Bảo tồn và Quản lý rạn san hô, xây dựng chiến lược quốc gia về quản lý rạn san hô. Khung chính sách đó sẽ là nền tảng để phân rõ trách nhiệm và nguồn lực tài chính cho các tỉnh ven biển, để các tỉnh được chủ động trong việc xây dựng, thực hiện và nhân rộng các kế hoạch bảo tồn và khôi phục rạn san hô.

Du lịch bền vững – xu hướng phát triển Du lịch biển Việt Nam

Để xây dựng một ngành du lịch bền vững thì việc gia tăng số lượng du khách không thôi không có tác dụng. Việc đó chỉ làm tăng thêm áp lực lên cơ sở hạ tầng và môi trường, đe dọa đến nét quyến rũ – đặc điểm đầu tiên lôi cuốn du khách đến với một nơi như Việt Nam

Vậy nên việc cần thiết hiện tại là điều tiết số lượng du khách theo hướng ưu tiên các tour du lịch bền vững cũng như các tập du khách mang lại giá trị kinh tế cao cho cộng đồng địa phương. Tiết chế chạy theo các đánh giá sáo rỗng về lượt du khách hàng năm.

Lấy ví dụ như các điểm đến phổ biến nhất của Việt Nam, đôi khi được gộp lại thành Hạ Long, Huế, Hội An và Thành phố Hồ Chí Minh – đều nổi tiếng với bề dày văn hóa, lịch sử và vẻ đẹp tự nhiên vốn có, nhất là các khu vực và làng chài vên biển. Điều này là điều kiện rất thuận lợi để phát triển các tour du lịch biển và trải nghiệm đời sống, nhằm giới thiệu với thế giới nền văn hóa và phong cảnh đa dạng, phong phú của các vùng duyên hải Việt Nam.

Phần 2 của series ‘Báo cáo du lịch biển Việt Nam’ sẽ đưa Team mình theo dòng các Case studies về việc xây dựng du lịch biển bền vững ở các khu vực duyên hải trãi dài theo đường bờ biển Việt Nam.

From Teer with love ♥Facebook call to action

CÁC BÁO CÁO NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG TRỌNG ĐIỂM KHÁC

Tổng hợp Nghiên cứu thị trường KHÁCH SẠN, du lịch 2020 – Dự đoán 2021 – 2022

Tổng hợp nghiên cứu thị trường LÚA GẠO và giá lúa gạo 2021 – Dự báo biến động 2022

 

1 Click vào Quảng cáo bên dưới, Google sẽ tài trợ duy trì Web tụi mình.

Click Quảng cáo, tắt ngay là được. Teer cảm ơn mọi người.  ⤵️⤵️⤵️

 

error: Team inbox Teer trên Facebook để nhận bản gốc bài viết nhé : )